Dược sĩ Đông Dược nói về cây thuốc có tác dụng như mật gấu Từ trước tới nay mật gấu (hùng đởm) luôn được coi là bài thuốc Y học cổ truyền làm tan huyết. Tuy nhiên, nhiều cây thuốc, vị thuốc quanh ta cũng có tác dụng tương đương thậm chị mạnh hơn mất gấu. Y học cổ truyền nói về Rễ Cau tác dụng mạnh hơn cả ...
Trang chủ > Trung Cấp Y Dược > Y Sĩ Y Học Cổ Truyền > Dược sĩ Đông Dược nói về cây thuốc có tác dụng như mật gấu

Dược sĩ Đông Dược nói về cây thuốc có tác dụng như mật gấu

Đánh giá: 1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (8 đánh giá, trung bình: 5,00 trong tổng số 5)
Loading...
27/10/2015 955 Lượt xem

Từ trước tới nay mật gấu (hùng đởm) luôn được coi là bài thuốc Y học cổ truyền làm tan huyết. Tuy nhiên, nhiều cây thuốc, vị thuốc quanh ta cũng có tác dụng tương đương thậm chị mạnh hơn mất gấu.

Cây đại kế

Cây đại kế còn có tên là ô rô cạn. Là loại cây thảo sống lâu năm, có rễ trụ, thân thẳng cao 50cm, có rãnh dọc, nhiều lông. Lá mọc so le, không cuống; phiến bầu dục, mép có răng to, không đều, nhọn, gốc hẹp có tai nhỏ ôm thân. Lá bắc có nhiều lông và có gai. Cụm hoa to hình đầu đường kính 1,5cm, mọc ở nách lá hay đầu cành, hoa màu tím đỏ. Hoa hoàn toàn hình tưỡi. Quả bế thuôn hơi dẹt, lông mào dài 1,5cm. Mùa ra hoa tháng 5-7, quả tháng 8-10.

cay-thuoc-dai-ke1

Bài thuốc Y học cổ truyền từ cây Đại kế 

Bài 1: Trị các chứng mụn nhọt (chưa vỡ mủ): Lá đại kế 30g, rửa sạch, để ráo nước giã nhỏ thêm chút nước vắt lấy thuốc để riêng. Thuyên thảo, địa du, ngưu tất mỗi vị 10g, kim ngân hoa 30g. Tất cả cho vào ấm đổ ngập nước, sắc nhỏ lửa 20 phút. Lấy nước thuốc trộn với nước lá đại kế. Chia 2 lần uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày. Ngoài ra, dùng cả cây tươi đại kế lượng vừa đủ giã nát đắp ngoài vào mụn nhọt.

Bài 2: Bị thương sưng đau, bầm tím: Ðại kế 30g; mộc thông, kim ngân hoa, ngưu tất, sinh địa mỗi vị 20g. Tất cả cho vào ấm, đổ 750ml nước, sắc nhỏ lửa còn 300ml nước chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 1 tuần.

Trị rong kinh: Đại kế 25g, trắc bá (sao), lá sen, thiến thảo, rễ cỏ tranh, dành dành (sao vàng), mỗi vị 20g. Tất cả cho vào ấm đổ 550ml nước, sắc nhỏ lửa còn 250ml, chia 2 lần, uống trong ngày thuốc còn ấm. Dùng 15 ngày trước chu kỳ kinh. 10 ngày một liệu trình.

Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp: Đại kế cả rễ 30g, hạ khô thảo, hy thiêm thảo mỗi vị 20g. Cho vào ấm đổ 700ml nước sắc nhỏ lửa 30 phút, uống thay trà hàng ngày. 15 ngày một liệu trình.

Dược sĩ Đông Dược lưu ý: Bệnh nhân tỳ vị hư hàn thận trọng khi dùng đại kế.

Cây tam lăng

Cây tam lăng còn có tên gọi là cồ nốc mảnh, tiểu hắc tam lăng. Là loại cây thảo sống lâu năm, có thân rễ, thân cao, to. Lá hình dải, dài, màu lục, có nhiều gân; cuống lá dài 30cm. Cụm hoa trên cuống dài, đầy lông; chùm cao 10cm, với 10 – 20 hoa có cuống, có lông; hoa to có đường kính 2,5cm, với phiến hoa cao, 6 nhị và bầu đầy lông. Quả hình bầu dục, hạt nhiều. Mùa ra hoa tháng từ tháng 4 – 7. Cây thường mọc hoang ở thung lũng, trong rừng ở Lào Cai, Ninh Bình, Quảng Trị.

cay-thuoc-co-tac-dung-nhu-mat-gau1

Bộ phận dùng làm thuốc là thân rễ. Thu hoạch vào mùa đông đến mùa xuân, đào lấy rễ, rửa sạch, cạo lớp vỏ ngoài, phơi khô. Để làm thuốc sau khi đào củ rễ về bỏ hết lá và tua rễ phơi hay sấy khô là tam lăng sống, nếu đem tam lăng trộn giấm sao lên màu thâm là tam lăng chế giấm.

Theo người học Trung cấp Y học cổ truyền, tam lăng vị đắng tính bình; vào quy kinh can tỳ. Có tác dụng phá huyết khu ứ, hành khí chỉ thống. Chủ trị các chứng ứ huyết do sang chấn, kinh bế, đau bụng, thống kinh… Cây được đưa vào danh mục cây thuốc vị thuốc có tác dụng thay thế mật gấu.

Cách dùng tam lăng trong Y học cô truyền

Chữa huyết ứ do sang chấn: Tam lăng, rửa sạch, ngâm nước lã một giờ đem ủ cho mềm, thái nhỏ, tẩm giấm hay ngâm giấm 1 đêm, thái lát sao. Cho vào ấm đổ ngập nước, đun nhỏ lửa, nấu cao uống trị ứ huyết, có tác dụng giảm đau. Liều dùng từ 3 – 10g.

Trị bụng dưới đau tức, phụ nữ sau sinh ứ huyết: Tam lăng, nga truật, quán chúng, tô mộc mỗi vị 8g, đương quy 12g, thục địa 16g, hồng hoa, huyết kiệt, nhục quế, mộc hương mỗi vị 6g. Cho vào ấm đổ 700ml nước. Sắc nhỏ lửa còn 300ml nước, chia 3 lần uống trong ngày. Uống thuốc còn ấm. Dùng 3 – 5 ngày.

Trị đau bụng trên, chướng bụng và thượng vị (do thức ăn sống lạnh): Tam lăng, nga truật mỗi vị 8g, thanh trần bì, bán hạ, mạch nha mỗi vị 12g, cho giấm tốt nấu khô sao tán bột hồ giấm viên mỗi lần uống 10g, ngày 2 lần, uống với rượu ấm trước khi ăn. Dùng liền 5 ngày.

Học-Trung-cấp-cấp-Y-học-cổ-truyền-trở-thành-Lương-Y-nổi-tiếng3

Dược sĩ Đông Dược lưu ý: Tỳ vị hư yếu, không có thực tích thì kiêng dùng. Không dùng tam lăng cho phụ nữ có thai và trong giai đoạn kinh nguyệt ra nhiều. Do cơ địa mỗi người khác nhau, có thể gia giảm các vị thuốc cho phù hợp. Khi dùng cần có tư vấn của các nhà chuyên môn để đạt hiệu quả cao.

Nguồn: suckhoedoisong.vn

Có thể bạn quan tâm

Y học cổ truyền giới thiệu bài thuốc Bà Bầu bị nóng khi mang thai

Có rất nhiều mẹ Bầu khi mang thai thường bị nóng gây ảnh hưỡng không ...

 
Chat với chúng tôi